Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Chim Mỏ chéo

 Chim mỏ chéo (chi Loxia) nổi bật với đặc điểm mỏ bắt chéo độc đáo, kích thước khoảng 17 cm và sống chủ yếu trong các khu rừng thông. Tìm hiểu thêm thông tin về chi tiết hình dáng, cách sinh sống và môi trường của loài chim này qua các mục dưới đây. Xem thêm:  Crossbill - Wikipedia   Source ảnh:  Bùi Phú Khánh - Chụp 1 cặp trống mái 2 em này đứng cạnh nhau khó... | Facebook Source Video:  https://www.facebook.com/share/r/1E5P7XDKkD/  
Các bài đăng gần đây

Chuồn chuồn

Chuồn chuồn (Odonata) là một bộ côn trùng với khoảng 4.500 loài hiện được biết tới, chia thành hai nhóm lớn: chuồn chuồn ngô (Anisoptera) và chuồn chuồn kim (Zygoptera), khác nhau chủ yếu ở tư thế của cánh khi đậu và hình dạng của ấu trùng. Chuồn chuồn là động vật không có xương sống và thuộc lớp sâu bọ của ngành chân khớp. Xem thêm:  Chuồn chuồn – Wikipedia tiếng Việt   Source ảnh:  https://www.facebook.com/share/p/1VKMYh5Cm1/ 

Báo tuyết

Báo tuyết (Panthera uncia) (tiếng Anh: Snow Leopard) là một loài thuộc Họ Mèo lớn sống trong các dãy núi ở Nam Á và Trung Á. Gần đây, nhiều nhà phân loại học mới đưa báo tuyết vào trong chi Báo cùng với vài loài khác trong họ Mèo, tuy nhiên chúng không phải là một loài "báo" thực thụ mà theo phân loại thì chúng có quan hệ gần gũi với loài hổ hơn. Theo nguyên tắc phân loại sinh học, báo tuyết đã được phân loại là Uncia uncia kể từ đầu những năm 1930. Dựa trên kiểu gen nghiên cứu, loài mèo lớn này đã được coi là một thành viên của chi Panthera từ năm 2008. Vấn đề này vẫn đang được cân nhắc. Xem thêm:  Báo tuyết – Wikipedia tiếng Việt   Source ảnh:  Bloom Aura - A rare white snow leopard sits gracefully on a... | Facebook  

Gà gô mào

Gà gô mào (Ortygornis sephaena) là một loài chim thuộc họ Trĩ (Phasianidae). Loài này phân bố ở miền nam châu Phi. Một trong những phân loài của nó, *Ortygornis sephaena rovuma*, đôi khi được xem là một loài riêng biệt có tên là đa đa Kirk. Xem thêm:  Crested francolin - Wikipedia   Source ảnh:  Vũ Minh Tuấn - Gà gô mào (mái) Crested partridge (female) Borneo... | Facebook Source ảnh:  VWPC - Vietnam Wildlife Photography Club | Gà gô mào (trống) | Facebook

Báo gấm

 Báo gấm (Neofelis nebulosa) hay báo mây, (tiếng Anh: Clouded Leopard) là một loài mèo cỡ trung bình trong Họ Mèo, toàn thân dài 60 tới 110 cm (2' - 3'6") và cân nặng khoảng 11 – 20 kg (25 lbs 4oz - 44 lbs). Lông chúng màu nâu hay hung, điểm "hoa" elip lớn, hình dạng không đều, gờ màu sẫm trông giống như đám mây, vì thế tên khoa học và một số tiếng nước ngoài đều nhắc tới "mây". Chúng phân bố từ chân đồi Himalaya qua đất liền Đông Nam Á vào miền nam Trung Quốc. Kể từ năm 2008, chúng được liệt kê là dễ bị tổn thương trong sách đỏ IUCN. Tổng số lượng cá thể trưởng thành nghi ngờ là ít hơn 10.000, với xu hướng đang giảm về số lượng. Xem thêm:  Báo gấm – Wikipedia tiếng Việt   Source ảnh:  Bloom Aura - Even the most elusive predators take a peaceful... | Facebook  

Hổ

Hổ hay còn gọi là cọp, hùm, beo(và các tên gọi khác như Ông ba mươi, kễnh, khái, danh pháp khoa học: Panthera tigris) là một loài động vật có vú thuộc họ Mèo được xếp vào một trong năm loài "mèo lớn" thuộc chi Panthera.[5] Hổ là một loài thú ăn thịt, chúng dễ nhận biết nhất bởi các sọc vằn dọc sẫm màu trên bộ lông màu đỏ cam với phần bụng trắng. Hổ là loài thú lớn nhất trong họ nhà Mèo và là động vật lớn thứ ba trong các loài thú ăn thịt (sau gấu Bắc Cực và gấu nâu). Hổ là một trong những loài động vật có biểu tượng lôi cuốn và dễ nhận biết nhất trên thế giới với những sọc vằn vện không lẫn vào đâu được. Chúng nổi bật trong thần thoại và văn hóa dân gian cổ đại, tiếp tục được miêu tả trong các bộ phim và văn học hiện đại, xuất hiện trên nhiều lá cờ, phù hiệu áo giáp và làm linh vật cho các đội tuyển thể thao. Đặc biệt trong văn hóa phương Đông, hổ được mệnh danh là "chúa sơn lâm". Do đó, chúng là biểu tượng quốc gia của nhiều nước như Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia và ...

Chim Đuôi cụt Ấn Độ

Đuôi cụt Ấn Độ, tên khoa học Pitta brachyura, là một loài chim trong họ Pittidae. Đây là loài bản địa của tiểu lục địa Ấn Độ. Chúng sinh sống ở rừng cây bụi, cây rụng lá và rừng thường xanh dày đặc. Chúng sinh sản trong các khu rừng của dãy Himalaya, đồi miền trung và miền tây Ấn Độ, chúng di chuyển đến các khu vực khác của bán đảo trong mùa đông. Mặc dù rất nhiều màu sắc, chúng thường nhát và ẩn mình trong các bụi cây nơi chúng bắt côn trùng trên mặt đất rừng. Chúng có tiếng hót hai nốt nổi bật có thể được nghe thấy vào lúc bình minh và hoàng hôn. Chúng được coi là quan tâm nhất của IUCN là phạm vi phân bố rất lớn. Xem thêm:  Đuôi cụt Ấn Độ – Wikipedia tiếng Việt   Source ảnh:  Sadik Palakkatt | Facebook